Bài trình chiếu SKKN - Đề tài: Rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải toán (Phan Huyền Trang)

pptx 23 trang Ngọc Diệp 21/03/2026 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài trình chiếu SKKN - Đề tài: Rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải toán (Phan Huyền Trang)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pptxbai_trinh_chieu_skkn_de_tai_ren_luyen_tu_duy_phan_bien_cho_h.pptx

Nội dung tài liệu: Bài trình chiếu SKKN - Đề tài: Rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải toán (Phan Huyền Trang)

  1. Đề tài: “Rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học giải toán”. GV thực hiện: Phan Huyền Trang
  2. PHẦN MỞ ĐẦU 1 TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 Cấu trúc đề tài 2 PHẦN NỘI DUNG PHẦN KẾT LUẬN 3
  3. I. Mở đầu 1. Lý do lựa chọn biện pháp 2. Đối tượng áp dụng - Học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Bắc Hưng.
  4. I. Mở đầu Lí do chọn biện pháp - Năng lực tư duy phản biện chiếm một vị trí rất quan trọng, đặc biệt là lứa tuổi học sinh. - Ít chú ý rèn luyện tư duy cho học sinh thông qua dạy học giải toán. - Khả năng tư duy phản biện của các em học sinh còn nhiều hạn chế.
  5. 1. Mục tiêu của biện pháp NỘI DUNG 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp 3. Nội dung biện pháp 4. Cách thức thực hiện biện pháp
  6. 1. Mục tiêu của biện pháp - Giúp học sinh hiểu và biết được biểu hiện của tư duy phản biện trong học giải toán ở lớp 5, rèn luyện tư duy phản biện thông qua giải toán. - Phát huy tối đa năng lực phản biện của người dạy và người học trong dạy học giải toán. - Giúp cho học sinh tiểu học thêm yêu thích môn Toán, thường xuyên có thói quen rèn luyện tư duy phản biện trong học tập môn toán.
  7. 2.1. Cơ sở lí luận - Khả năng tiếp cận bài toán một cách cẩn thận, thu thập thông tin chính xác, xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, liên hệ sâu rộng để tìm hướng giải quyết bài toán. - khả năng sàng lọc, lựa chọn giải pháp phù hợp và giải quyết bài toán trên cơ sở so sánh, đánh giá các giải pháp theo tiêu chuẩn xác định. - khả năng kiểm tra, phát hiện chỗ sai, sửa chữa, nêu nguyên nhân sai; nhận xét, đánh giá, khẳng định hoặc bác bỏ lời giải bài toán. - khả năng giải bài toán bằng nhiều cách và lựa chọn cách tối ưu. - Khuyến khích học sinh đề xuất cách giải bài toán mang tính độc đáo, sáng tạo.
  8. 2.2. Cơ sở thực tiễn Giáo viên - Phát hiện lỗi sai, chỉ ra nguyên nhân và cách sửa chữa các lỗi sai đó trong lời giải cho trước. - Kĩ năng lựa chọn cách giải tối ưu cho một bài toán. - Chưa chuẩn bị tốt các điều kiện trước khi dạy - học giải toán, chưa quan tâm triệt để đến việc nhận xét, sửa chữa cho học sinh. - Xem nhẹ, bỏ qua một số kĩ năng, thao tác cần rèn luyện cho học sinh như: kĩ năng tìm hiểu đề, kĩ năng phát hiện lỗi và sửa chữa lỗi,... - Lúng túng về phương pháp dạy học, khả năng tổ chức tiết dạy giải toán
  9. Cơ sở thực tiễn Học sinh - Chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức tạp; không biết cách phân tích, lười suy nghĩ. - Quan tâm đến kết quả cuối cùng của bài toán, không phát hiện được lỗi sai trong bài, chưa nêu được nguyên nhân sai. - Chưa biết xây dựng kế hoạch giải toán. - Thiếu khả năng liên hệ đề bài với kiến thức đã học để tìm ra cách giải. - Chỉ nhận xét bài làm của bạn là đúng hay sai, tốt hay chưa tốt.
  10. Nội dung biện pháp 1 3 5 Nâng cao nhận Khai thác các tình huống, Phối hợp các phương bài tập mà học sinh dễ thức của giáo viên pháp dạy học theo mắc sai lầm hướng tích cực 2 4 Sử dụng hệ thống Xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập bổ sung
  11. 3. Nội dung biện pháp 3.1. Nâng cao nhận thức của giáo viên về tư duy phản biện trong giải toán cho học sinh Tư duy phản biện của học sinh được biểu hiện trong các bước sau: - Khả năng phân tích đề bài - Khả năng tự kiểm tra lại bài làm của mình. - Khả năng phát hiện và sửa lại chỗ sai trong bài giải cho trước, chỉ ra điểm chưa hợp lí trong đề bài. - Khả năng tranh luận để tìm ra cách giải một bài toán Khả năng thực hiện nhiều cách giải và lựa chọn cách giải tối ưu
  12. 3.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi để rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh lớp 5. Bước 1: Xác định mục đích, tính chất, đối tượng dạy học. Bước 2: Phân chia nội dung bài học thành các đơn vị tri thức nhỏ, chuyển thành dạng câu hỏi gợi ý. Bước 3: Dự kiến phần nội dung sẽ sử dụng câu hỏi, mục đích câu hỏi, dạng câu hỏi, số câu hỏi Bước 4: Chính xác hóa các câu hỏi theo mục đích sư phạm, dự kiến đặt thêm hoặc bỏ bớt câu hỏi cho phù hợp với đối tượng cụ thế.
  13. Dẫn dắt bằng các câu hỏi sau: Từ..., ta suy ra điều gì? Vì sao? Biết..., cho phép ta tìm được yếu tố nào? Vì sao? Để tìm được...., ta phải tìm được yếu tố nào? Tại sao? Để tính được..., ta phải làm thế nào? (hoặc làm phép tính gì?) Tại sao?
  14. Ví dụ: Tiết 18, bài “Ôn tập và bổ sung về giải toán” (tiếp theo) Nội dung: Trích hoạt động hướng dẫn học sinh hình thành cách giải “rút về đơn vị” Câu hỏi 1: Biết mức làm của mỗi người như nhau, vậy số ngày làm giảm thì số người sẽ thay đổi như thế nào? (HS đọc đề bài và tóm tắt đề bài, nêu cái đã cho, cái phải tìm của bài toán. 2 ngày: 12 người; 4 ngày:...người. HS trả lời được: Số ngày làm giảm thì số người làm sẽ tăng) Câu hỏi 2: Biết đắp nền nhà trong hai ngày thì cần 12 người. Nếu muốn đắp xong nền nhà trong 1 ngày thì cần bao nhiêu người? Câu hỏi 3: Vì sao tính số người đắp xong nền nhà trong 1 ngày bằng cách lấy 12 x 2? (HS trả lời: Vì số ngày làm giảm đi 2 lần thì số người làm tăng lên 2 lần nên lấy 12 x 2 ) Giáo viên kết luận: Số ngày làm giảm đi bao nhiêu lần thì số người làm tăng lên bấy nhiêu lần. Câu hỏi 4: Biết đắp nền nhà trong 1 ngày thì cần 24 người, vậy cần bao nhiêu người để đắp xong nền nhà trong 4 ngày? Câu hỏi 5: Vì sao tính số người đắp xong nền nhà trong 4 ngày bằng cách lấy 24 : 4? Giáo viên kết luận: Số ngày làm tăng lên bao nhiêu lần thì số người làm giảm đi bấy nhiêu lần.
  15. * Đối với dạng bài luyện tập, củng cố, phát triển kĩ năng giải toán: Câu hỏi thường có dạng: + Bài toán thuộc dạng toán nào trong các dạng toán đã học? Bài toán này liên quan đến dạng toán nào đã học? Em liên hệ bài toán này với dạng nào?.. + Trong lời giải trên, bước nào được gọi là bước gì? Lời giải tốt hoặc chưa tốt? Tốt ở chỗ nào? Chưa tốt ở chỗ nào? Giải thích vì sao tốt (chưa tốt)? + Còn cách giải nào hay hơn không? Em có thể tìm được cách giải hơn hơn không? Có cách giải nào ngắn gọn và dễ hiểu hơn không? Liệu có sai lầm nào trong cách giải trên không? Có thể tìm cách giải khác được không? ... + Trong bài toán này, chúng ta cần lưu ý điều gì (về đơn vị đo các đại lượng, về câu lời giải, về trình bày phép tính,...)? + Khi giải dạng toán.., chúng ta cần chú ý điều gì?
  16. 3.3. Khai thác các tình huống, các bài tập mà học sinh dễ mắc sai lầm khi tiếp thu hoặc khi giải toán để rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh. - Giáo viên đưa ra các lời giải có sai sót để rèn luyện cho học sinh khả năng phát hiện lỗi, nhận xét, sửa chữa (nếu cần) hoặc nêu các bài toán vô lí, mâu thuẫn cho học sinh phân tích, phát hiện các điều vô lí đó. * Đối với lời giải có sai sót: + Bước 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh tiếp nhận, phân tích, nhận xét tình huống, bài toán, lời giải bài toán. + Bước 2: Tổ chức cho học sinh nêu ý kiến cá nhân, thảo luận, tranh luận điều vô lí, các điểm mâu thuẫn, các lỗi sai và cách sửa chữa. + Bước 3: Giáo viên nhận xét, kết luận về tình huống, đưa ra các lưu ý cho học sinh khi tiếp nhận tình huống hoặc khi giải bài toán.
  17. * Đối với bài toán vô lí, có mâu thuẫn + Bước 1: Giáo viên nêu bài toán và yêu cầu học sinh làm bài. + Bước 2: Yêu cầu học sinh nêu kết quả, nhận xét + BướcChú ý 3:rèn Giáo luyện viên tư duy nhận phản xét, biện nêu cho cáchọc sinhlưu ýthông cho quahọc phát sinh hiện và sửa các lỗi cơ bản thường gặp sau đây: + Lỗi về thực hiện phép tính. + Lỗi về vận dụng các công thức tính, vận dụng cách giải bài toán có dạng quen thuộc. + Lỗi về sử dụng đơn vị đo các đại lượng + Lỗi về thứ tự trình bày các bước giải. + Lỗi về trình bày các lập luận của câu trả lời giải.
  18. 3.4. Xây dựng hệ thông bài tập bổ sung để rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh. + Bước 1: Xác định đối tượng: học sinh đại trà + Bước 2: Xác định mục tiêu : Rèn luyện khả năng phát hiện và chữa lỗi sai trong lời giải cho trước. + Bước 3: Xác định nội dung của bài tập: Bài tập thuộc dạng toán chuyển động đều Tình huống: Bài toán: “Lúc 7 giờ sáng, một người đi xe máy xuất phát từ A với vận tốc 40km/giờ để đến B. Hỏi người đó đến B lúc mấy giờ, biết quãng đường AB dài 100km? + Bước 4: Đặt thành đề toán: “ Em hãy gạch chân chỗ sai trong lời giải bài toán sau rồi sửa lại cho đúng
  19. Bài giải: Thời gian người đó đi từ A đến B là: 100 : 40 = 2,5 (giờ) Thời gian người đó đến B là: 7 + 2,5 = 9,5 (giờ) Đáp số: 9,5 giờ Cách sửa: Người đó đến B lúc: Cách 1: Đổi 2,5 giờ thành 2 giờ 30 phút sau đó cộng với 7 giờ Cách 2: Đổi 9,5 giờ thành 9 giờ 30 phút